Trang chủ Giới thiệu Liên hệ Hỏi đáp Góc chia sẻ Login
   
   Địa chỉ: số 37 Kim M Thượng, Ba Đnh, H nội
- Trong nước - Khái niệm đạo đức

Trong nước

Khái niệm đạo đức

5/9/2011 - 5:44:31 PM

(Tamly) - Đạo đức hệ thống quan niệm, niềm tin của cá nhân, nhóm về các chuẩn mực, giá trị của xã hội, nó chi phối nhiều biểu hiện tâm lý của con người. Đạo đức là một mặt rất quan trọng thuộc đời sống tinh thần của con người, có vai trò quan trọng đối với sự phát triển xã hội.
Xem hình đúng cỡ ..
1. Đạo đức theo tư tưởng của Hồ Chí Minh.

Là một vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam, trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá rất cao vai trò đạo đức ở mỗi người dân, cũng như đạo đức của những người làm cách mạng… Người coi đạo đức là cái gốc, là nền tảng của người cách mạng, vì vậy, Người luôn coi trọng vấn đề xây dựng đạo đức cách mạng. Người không chỉ bàn một cách sâu sắc, cụ thể về vấn đề đạo đức, quan tâm đến cách thức xây đựng đạo đức cho các đối tượng dưới quyền lãnh đạo của mình, mà chính bản thân Người, luôn luôn thực hiện một cách mẫu mực, triệt để những tư tưởng và khát vọng đạo đức do mình đặt ra.

Nói đến đạo đức, Hồ Chí Minh thường chú ý đến phẩm chất đạo đức của từng đối tượng cụ thể. Ví dụ, nói đến đạo đức của những người quân nhân, Bác Hồ cho rằng: họ phải là những người “Trung với nước, hiều với dân, nhiệm vụ nào cũng hòan thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thằng”. Nói đến đạo đức của học sinh, thiếu niên, nhi đồng, Người căn dặn các cháu 5 điều: “1. Yêu Tổ quốc, yêu đồng bào. 2. Học tập tốt, lao động tốt. 3. Đòan kết tốt, kỷ luật tốt. 4. Giữ gìn vệ sinh thật tốt. 5. Khiêm tốn, thật thà, dũng cảm”. Khi Người nhấn mạnh phẩm chất này hay phẩm chất khác với mong muốn những đối tượng cụ thể phải đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng Việt Nam ở từng giai đoạn nhất định.

Bên cạnh đó, Người đã khái quát lên những phẩm chất đạo đức chung, cơ bản nhất của con người Việt Nam trong thời kỳ hiện đại là: trung với nước, hiếu với dân; yêu thương con người; Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí công vô tư; tinh thần quốc tế trong sáng. Trong đó, những phẩm chất như: Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí công vô tư được Người quan tâm nhiều nhất, bởi những phẩm chất này gắn liền với đời sống của mỗi người, thể hiện mối quan hệ chặt chẽ giữa lời nói và việc làm, giữa suy nghĩ và hành động của mỗi cá nhân trong mối quan hệ với cộng đồng, cũng như với bản thân; trong sinh hoạt đời thường, cũng như trong hoạt động nghề nghiệp, nó chi phối nhiều phẩm chất khác của con người.

Theo quan niệm của Người, có thể hiểu những phẩm chất đó như sau:

Cần tức là lao động cần cù, siêng năng, chăm chỉ, cố gắng, dẻo dai; lao động với tinh thần tự lực cánh sinh, không lười biếng. Cần còn là làm việc một cách thông minh, sáng tạo, có kế hoạch, khoa học.

Kiệm tức là tiết kiệm sức lao động, tiết kiệm thời gian, tiết kiệm tiền của của dân, của nước, của bản thân; phải tiết kiệm từ cái lớn đến cái nhỏ, không phô trương hình thức, không xa xỉ, hoang phí. Cần và Kiệm phải đi đôi với nhau như hai chân của con người. Cần mà không Kiệm thì như gió vào nhà trống, như nước đổ vào cái thùng không đáy, làm chừng nào xào chừng ấy, rốt cuộc không lại hoàn không. Kiệm mà không Cần thì không tăng thêm và không phát triển được. Bác giải thích, tiết kiệm không phải là bủn xỉn.

Liêm nghĩa là trong sạch, là luôn luôn tôn trọng, giữ gìn của công, của dân, không tham địa vị, không tham tiền tài. Không tham sung sướng. Không ham người tâng bốc mình. Chỉ có một thứ ham là ham học, ham làm, ham tiến bộ.

Chính nghĩa là không tà, thẳng thắn, đứng đắn. Theo Bác, trên trái đất có hàng muôn triệu người, trong số người đó chỉ có thể chia làm hai hạng là người thiện và người ác. Trong xã hội, tuy có trăm nghìn công việc song những công việc ấy có thể chia làm hai thứ là việc chính việc tà. Làm việc chính là người thiện, làm việc tà là người ác. Việc thiện thì dù nhỏ mấy cũng làm, việc ác thì dù nhỏ mấy cũng tránh. Mỗi ngày cố làm một việc ích nước, lợi nhà. Bác khẳng định: Cần, Kiệm, Liêm là gốc rễ của Chính, như một cái cây cần có cành lá, hoa quả mới là một cây hoàn toàn. Con người có Cần, Kiệm, Liêm nhưng cần phải Chính thì mới hoàn chỉnh.

Chí công vô tư nghĩa là khi làm bất cứ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình trước, khi hưởng thụ thì mình nên đi sau, phải lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ. Thực chất của chí công vô tư ở đây chính là thể hiện mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân với lợi ích tập thể, thể hiện thái độ, trách nhiệm của mỗi người đối với công việc được giao. Chí công vô tư còn là ham làm những gì có lợi cho dân, cho nước, không ham địa vị, không màng công danh, vinh hoa phú quý.

Như vậy, khi nói đến đạo đức, Hồ Chí Minh thường bàn đến đạo đức liên quan đến nhiệm vụ chính trị của những đối tượng cụ thể và trong từng giai đoạn cách mạng cụ thể, Người nhấn mạnh đến những phẩm chất đạo đức khác nhau, phù hợp với nhiệm vụ cách mạng trong từng giai đoạn. Đồng thời, Người đã khái quát được một số phẩm chất đạo đức chung của con người Việt Nam trong thời đại hiện nay là trung với nước, hiếu với dân; cần, kiệm, liêm chính, chí công, cô tư và có tình yêu thương con người. Trong đó, người đặc biệt quan tâm đến các phẩm chất cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư.

2. Đạo đức theo góc nhìn của Phật giáo

Theo Thích Chân Quang, đạo đức là những khuynh hướng tốt ở nội tâm con người, được biểu hiện qua những lời nói và hành vi đem lại lợi ích cho những người khác, làm cho họ thay đổi theo hướng tích cực, vui vẻ, hạnh phúc.

Theo nhà phật Thích Chân Quang, một người có đạo đức luôn luôn bị thúc đẩy phải có những hành vi tốt, đối xử tử tế với mọi người, phải đem vui vẻ và lợi ích cho mọi người. Nếu một người nào đó không thường xuyên có động cơ phải cư xử tốt với mọi người, phải làm những việc có ích cho người khác, cho xã hội thì hãy biết rằng mình chưa có đạo đức sâu sắc. Trái lại, có những người đôi lúc thể hiện hành vi, lời nói không tốt làm người khác không vui, không thoải mái, nhưng đó không phải là mục tiêu, mong muốn của họ, mà chỉ do cách nói, cách làm, do thiếu kỹ năng, hoặc do hoàn cảnh thì cũng không thể nói rằng họ không có đạo đức. Trong những trường hợp khác, có những người đôi khi làm được việc tốt nhưng không xuất phát từ nội tâm mà do sức ép từ bên ngoài (gia đình, đoàn thể…) thì cũng chưa thể nói rằng đó là hành vi đạo đức.

Như vậy, đạo đức là một phạm trù trừu tượng, là cái tốt trong nội tâm con người, nó chi phối, điều khiển suy nghĩ, lời nói, hành vi của họ để đem lại niềm vui, lợi ích cho những người xung quanh, đem lại lợi ích cho xã hội và gìn giữ môi trường thiên nhiên.

3. Quan niệm về đạo đức từ góc nhìn của một số lĩnh vực khoa học xã hội

Theo Từ điển xã hội học, đạo đức là những chuẩn mực hành vi xã hội hướng con người theo cái thiện, chống cái ác. Đạo đức là nền tảng của cuộc sống xã hội.

Theo các nhà xã hội học, đạo đức được điều tiết bằng hai yếu tố: yếu tố khách quan (dư luận xã hội) và yếu tố chủ quan (lương tâm con người). Mỗi hành vi vô đạo đức có thể không bị luật pháp trừng trị, nhưng bị dư luận xã hội và lương tâm lên án. (Thanh Lê (chủ biên) [2002], Từ điển Xã hội học. NXB Khoa học xã hội Việt Nam, Hà Nội – 2002).

Theo từ điển tâm lý học, “Đạo đức là phẩm chất tốt đẹp của cá nhân hay nhóm, biểu hiện ở hành vi phù hợp với các quy chuẩn, chuẩn mực xã hội. Đạo đức không phải là các quy chuẩn hay chuẩn mực xã hội” [Vũ Dũng (chủ biên), 2008]

4. Khái niệm đạo đức của thanh niên

Trên cơ sở những quan niệm đạo đức trên đây, chúng tôi cho rằng, đạo đức của thanh niên là hệ thống niềm tin, quan niệm của họ về các giá trị và chuẩn mực xã hội – những điều hướng hành vi của họ theo cái thiện, cái tốt, đem lại lợi ích con người và xã hội, hoặc theo cái ác, cái xấu, làm hại những người khác. Đạo đức có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của xã hội loài người.

Từ định nghĩa về đạo đức trên, có thể hiểu:

Thứ nhất, trong nghiên cứu này, đạo đức thanh niện là đạo đức của một nhóm người ở độ tuổi từ 18 đến 30.

Thứ hai, có thể tìm hiểu đạo đức của thanh niên thông qua các khía cạnh như: niềm tin, quan niệm và những hành vi mang tính ổn định của họ. Niềm tin, quan niệm là những khía cạnh của nhận thức, là kết quả của quá trình nhận thức đã được kiểm nghiệm qua cuộc sống, có tính tương đối ổn định, bởi vì, trong cuộc sống, việc thay đổi niềm tin, quan niệm của một người trưởng thành không phải là việc làm đơn giản và dễ dàng, cần phải có biện pháp và có quá trình tác động. Tương tự, những hành vi là biểu hiện của đạo đức phải là hành vi mang tính hệ thống, ổn định. Những hành vi đơn lẻ, bột phát, không do sự chi phối của niềm tin và quan niệm về các chuẩn mực và giá trị không thể được xem là biểu hiện của đạo đức.

Thứ ba, đạo đức là một phạm trù dàn trải bao hàm cả cực tốt và cực xấu chứ không phải đạo đức chỉ là những phẩm chất tốt đẹp. Nếu đạo đức là những phẩm chất tốt đẹp thì trong cuộc sống không cần phải đánh giá đạo đức của một cá nhân hay một nhóm nào đó theo tiêu chí tích cực hay không tích cực (tốt hay xấu). Trong thực tế, đạo đức của một cá nhân hay một nhóm người vẫn thường được đánh giá khi cần thiết. Ví dụ, việc đánh giá, xếp loại hạnh kiểm (đạo đức) của học sinh phổ thông diễn ra đều đặn vào cuối mỗi học kỳ hoặc cuối năm học theo các cấp độ từ tốt đến kém (tốt, khá, trung bình và kém); đạo đức của đoàn viên, của đảng viên, của cán bộ lãnh đạo… thường được đánh giá trong những dịp tổng kết năm, cuối nhiệm kỳ họat động… Trong cuộc sống đời thường, khi nói đến đạo đức của một cá nhân hay một nhóm người nào đó, người ta thường sử dụng thuật ngữ “có đạo đức” và (“vô”) đạo đức. Ở đây có thể hiểu rằng, người có đạo đức là người có đạo đức tốt, người vô đạo đức là người có đạo đức xấu.

N. Hoa
 

kiến của bạn

Ch : Bạn cần đăng nhập để gửi bi. Nếu bạn đ đăng k Thnh vin rồi xin mời Đăng nhập sử dụng User ID v mật khẩu đ đăng k. Nếu qun mật khẩu xin vui lng vo đy. Nếu bạn chưa l thnh vin, hy Đăng k một ti khoản tại đy.
Tựa đề (*)
Nội dung (*)
 
           

Về trước  

Các bi viết khác:
  • Hình thức giao tiếp của người nghỉ hưu
  • Các tổ chức, nhóm xã hội mà người nghỉ hưu thường tham gia
  • Một vài đặc điểm tâm lý của lứa tuổi thiếu niên
  • Những khó khăn của công đoàn cơ sở trong tổ chức lao động và đình công đúng luật
  • Nội dung giao tiếp gia đình của người nghỉ hưu ở Hà Nội
  • Nhu cầu giao tiếp của người nghỉ hưu ở Hà Nội
  • Đối tượng giao tiếp của người nghỉ hưu
  • Sự khác biệt rất lớn giữa ý kiến của giáo viên và học sinh về việc triển khai các hình thức Giáo dục nghề ở các trường
  • Nghiệm thu đề tài khoa học độc lập cấp Nhà nước (Phần 2)
  • Vai trò, ý nghĩa của hoạt động hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông
  • Thực trạng về cách ứng xử của cha mẹ đối với con cái
  • Nghiệm thu đề tài khoa học độc lập cấp Nhà nước (Phần 1)
  • Định hướng giá trị và ảnh hưởng của nó tới tính tích cực lao động của công chức phường (phần I)
  • Sự hình thành tâm lý xã hội trong đời sống xã hội (Phần 2)
  • Sự hình thành tâm lý xã hội trong đời sống xã hội (Phần 1)
  •  
    User ID:    
    Password:

     

     
    Đăng k thnh vin? Qun mật khẩu?

    Chi tiết