Trang chủ Giới thiệu Liên hệ Hỏi đáp Góc chia sẻ Login
   
   Địa chỉ: số 37 Kim M Thượng, Ba Đnh, H nội
- Trong nước - Sự phát triển khả năng sáng tạo trong hoạt động tạo hình của trẻ mầm non (Phần đầu)

Trong nước

Sự phát triển khả năng sáng tạo trong hoạt động tạo hình của trẻ mầm non (Phần đầu)

11/9/2012 - 4:56:17 PM

(Tamly) – Hoạt động sáng tạo có ý nghĩa rất quan trọng trong cuộc sống. Vì vậy cần phải phát triển khả năng sáng tạo ở trẻ mầm non. Phần 1 bài viết này sẽ trình bầy: Khái niệm sáng tạo; Nguồn gốc sáng tạo nghệ thuật trong hoạt động tạo hình của trẻ em; Mối quan hệ giữa khả năng sáng tạo trong hoạt động tạo hình với định hướng giá trị nhân cách của trẻ.

Xem hình đúng cỡ ..
1. Khái niệm sáng tạo

“Hoạt động sáng tạo có ảnh hưởng to lớn không chỉ đến tiến bộ khoa học kĩ thuật mà còn đến toàn bộ xã hội nói chung, và dân tộc nào biết nhận ra nhân cách sáng tạo một cách tốt nhất, biết phát huy phát triển họ và biết tạo ra một cách tốt nhất cho họ những điều kiện tốt nhất thì dân tộc đó sẽ có những ưu thế lớn lao”. Do đó, tính sáng tạo được coi như một phẩm chất quan trọng không thể thiếu được của người lao động mới. Sáng tạo là một vấn đề được các nhà khoa học ở nhiều nước và nhiều lĩnh vực quan tâm nghiên cứu; trong đó có các nhà tâm lí thế giới như P.A. Rudich, X.L. Rubinstein, M,Vecgâmor…. Ở Việt Nam có một số tên tuổi như: Nguyễn Huy Tú, Đức Uy, GS.VS Nguyễn Cảnh Toàn, …

Quan điểm duy tâm thì “sự sáng tạo là trạng thái tâm linh quyến rũ” (Platon). Thuyết phân tâm học của S.Freud cho rằng bản năng, đặc biệt là bản năng tình dục là nguyên nhân, động lực của mọi hoạt động con người kể cả hoạt động sáng tạo. Các quan điểm này đều hoàn toàn sai lầm vì không nhìn thấy được bản chất cũng như hoạt động tích cực của con người trong quá trình sáng tạo.

Theo quan điểm Macxit thì “tất cả các sức mạnh tinh thần của con người, kể cả những tưởng tượng cũng như trình độ điêu luyện có được trong học tập và trong thực tiễn cần có thể thực hiện ý định sáng tạo đều tham gia quá trình sáng tạo.” Các khả năng hoạt động sáng tạo là tuỳ thuộc vào các quan hệ xã hội.

L.X.Vưgotxki trong cuốn “Trí tưởng tượng và sáng tạo ở lứa tuổi thiếu niên” có đưa ra quan niệm: Chúng ta gọi hoạt động sáng tạo là bất cứ hoạt động nào của con người tạo ra được một cái gì mới, không kể rằng cái được tạo ra ấy là một vật của thế giới bên ngoài hay một cấu tạo nào đó của trí tuệ hoặc tình cảm chỉ sống và biểu lộ trong bản thân con người.

Theo Từ điển Tiếng Việt: Nói đến sáng tạo là nói đến việc làm ra cái mới chưa ai làm, hoặc là việc tìm tòi làm cho tốt hơn mà không bị gò bó.

Trong cuốn khơi dậy tiềm năng sáng tạo của tác giả Nguyễn Cảnh Toàn cho rằng: sáng tạo có nghĩa là tìm ra cái mới không bị gò bó và phụ thuộc vào cái có sẵn. Như óc sáng tạo, áp dụng có sáng tạo kinh gnhiệm của người nước ngoài.

Nhìn chung tất cả những quan điểm của các nhà nghiên cứu đã trình bày ở trên về sáng tạo đều nhấn mạnh đến cái mới và ý nghĩa xã hội của sản phẩm sáng tạo. Tuy mỗi tác giả phân tích vấn đề theo một hướng khác nhau, mặc dù có nhiều điểm khác biệt, song hầu hết các tác giả đều nhấn mạnh ý nghĩa của hoạt động sáng tạo, sản phẩm sáng tạo đối với sự phát triển con người và xã hội. Hay nói cách khác sáng tạo là tạo ra cái mới - đó là quá trình con người vận dụng những kinh nghiệm của bản thân, độc lập đưa ra những ý tưởng mới lạ hoặc cải tạo và biến đổi những sản phẩm có sẵn để tạo ra những sản phẩm mới nhằm phục vụ cho lợi ích chính đáng của bản thân và xã hội.

2. Nguồn gốc sáng tạo nghệ thuật trong hoạt động tạo hình của trẻ em

* Một số thành phần tâm lí cơ bản trong hoạt động tạo hình của trẻ em:

Có bốn yếu tố quan trọng: Cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng. Vưgotxki coi tri giác là quá trình quan trọng ban đầu, là nền tảng hỗ trợ cho hoạt động tư duy. Tri giác trong tạo hình:

- Nhìn: Bằng mắt nhưng khác bình thường. Nhìn bình thường là quá trình nắm bắt các đặc điểm của sự vật, hiện tượng. Nhìn trong tạo hình là quá trình liên quan chặt chẽ đến xúc cảm, tình cảm, cái nhìn thẩm mĩ. Cái nhìn trong tạo hình là cái nhìn hình tượng: Vừa phân tích tỏng hợp để tìm ra cái bản chất vừa tìm ra mối liên hệ giữa các bộ phận trong chỉnh thể, vừa phát hiện ra caí độc đáo, thú vị.

Cảm xúc: là nền tảng để chủ thể tiến hành các hoạt động nghệ thuật, xúc cảm tình cảm không phải tự nhiên mà có mà nó phải nảy sinh trong hoàn cảnh va chạm, đối diện với thực tiễn. Nó kích thích tính tích cực của tư duy.

Tưởng tượng: Là quá trình xây dựng hình ảnh mới có mục đích và khá tích cực. tưởng tượng trong sáng tạo nghệ thuật đôi khi khó phân biệt được hoặc không chủ định vì nó bị dẫn dắt bởi cảm xúc.

* Cơ sở của sự hình thành khả năng sáng tạo trong hoạt động tạo hình của trẻ em

Nhìn chung, sự sáng tạo xuất hiện từ rất sớm, sáng tạo mang tính nghệ thuật của trẻ em là phổ biến và đơn giản. Tuy nhiên có nhiều quan điểm khác nhau, trong đó nói nhiều đến quan điểm: 1- Coi cội nguồn, cơ sở để hình thành khả năng sáng tạo xuất hiện từ bên trong (bẩm sinh); do đó không thể điều khiển được, không nên can thiệp. 2 - Cơ sở của sự sáng tạo là cuộc sống và nền văn hoá nghệ thuật xung quanh trẻ. Quan điểm này cũng chia thành 2 nhóm:
- Có thể chỉ là môi trường sư phạm, môi trường nghệ thuật người ta tạo ra cho trẻ.

- Chú trọng những tác động trực tiếp tới trẻ (chú trọng tới những phương pháp tác động).

Tóm lại, trong cơ sở, nguồn gốc của sự hình thành sáng tạo của trẻ em có sự tổng hợp, hoà quyện của nhiều yếu tố: Cơ sở trò chơi, cơ sở hoạt động nghệ thuật, hoạt động giao tiếp.

3. Mối quan hệ giữa khả năng sáng tạo trong hoạt động tạo hình với định hướng giá trị nhân cách của trẻ

Định hướng giá trị nhân cách có vai trò to lớn trong việc con người tiếp thu những chuẩn mực đạo đức, thẩm mỹ, hình thành nên giá trị của mình. Định hướng giá trị nhân cách cũng ảnh hưởng tới khả năng sáng tạo thể hiện ở sự nỗ lực của cá nhân.

Định hướng giá trị nhân cách trong quá trình hoạt động có ý nghĩa là đứa trẻ coi cái gì là có giá trị, cái gì là trẻ quan tâm. Khi nghiên cứu tính sáng tạo trong hoạt động tạo hình của trẻ em, người ta thấy rằng có những đứa trẻ đạt hiệu quả cao trong đề tài này, có đứa trẻ đạt hiệu quả cao trong đề tài khác. Nếu nội dung của hoạt động tạo hình phù hợp với nội dung của định hướng giá trị nhân cách ở trẻ thì mọi đứa trẻ sẽ đạt thành tích cao trong hoạt động sáng tạo. Cụ thể có các kiểu giá trị nhân cách:

1. Định hướng giá trị chức năng
2. Định hướng giá trị tuân thủ quy định
3. Định hướng giá trị quan hệ
4. Định hướng giá trị giao tiếp
5. Định hướng giá trị nhận thức

Ở nhóm trẻ loại 1: Trẻ vẽ những gì diễn ra trong đời sống hàng ngày có thể lặp đi lặp lại nhiều lần. Thường chúng sử dụng những từ ngữ thông dụng, không có từ tượng thanh, tượng hình, nội dung tạo hình nghèo nàn, không độc đáo, từ ngữ đơn giản.

Ở nhóm trẻ loại 2: trẻ thường đưa vào nội dung tranh vẽ của mình những gì mang tính chất quy tắc, khuôn mẫu, yêu cầu mà trẻ phải thực hiện trong phạm vi chính sinh hoạt đời sống hàng ngày ở gia đình, nhà trường mà không có gì khác biệt. Trẻ thường sử dụng những từ ngữ như: phải, làm như thế nào là đúng…

Ở nhóm trẻ loại 3: Ban đầu trẻ quan tâm đến mối quan hệ giữa người với người trong phạm vi xã hội nhỏ của nó và dựa vào nội dung hoạt động tạo hình có sự quan sát, suy nghĩ và bước đầu thể hiện thông tin bên trong. Đồng thời trong ngôn ngữ nói chúng thường cố gắng chọn những từ chỉ xúc cảm, tình cảm để đưa ra suy nghĩ riêng của mình, bắt đầu đã có sự bứt phá ra không vi phạm quy định.

Ở nhóm trẻ thứ 4: Trẻ thông minh, tương tác, nội tâm phát triển hơn. Tranh vẽ có sự phân hoá ở trình độ cao do chính kinh nghiệm và nhu cầu giá trị cũng như hình thức đối với đối tượng giao tiếp, không chỉ là mối quan hệ quảng cáo các hoạt động. Nội dung tranh vẽ của trẻ thường có những sự kiện trong cộng đồng, thông tin công cộng, trẻ nghe ngóng nhiều hơn, tiếp thu thông tin nhiều hơn, vốn từ phong phú hơn và từ ngữ của chúng ban đầu hướng vào giá trị xã hội. Nó dễ dàng vượt ra những nội dung tạo hình người ta cho trong chương trình.

Ở nhóm trẻ thứ 5: Không có nhiều trẻ mầm non ở nhóm này. Khả năng lựa chọn nội dung của những trẻ này khá phong phú, ở trong đề tài chúng tưởng tượng đã có cái gì đó liên quan đến quá trình tưởng tượng đến thế giới bên ngoài như chính cuộc phiêu lưu… hình ảnh này chúng được tiếp cận trên tivi, phim hoạt hình, phim khoa học… thậm chí là hiện tượng thiên nhiên. Và không phải ai cũng thích những sản phẩm tạo hình của trẻ loại này vì những thứ chúng quan tâm đến quá viển vông, lãng mạn... Người ta không cho phép và không muốn trẻ con có đặc điểm đó.

(Còn tiếp)

Đỗ Duy Hưng (ST)


kiến của bạn

Ch : Bạn cần đăng nhập để gửi bi. Nếu bạn đ đăng k Thnh vin rồi xin mời Đăng nhập sử dụng User ID v mật khẩu đ đăng k. Nếu qun mật khẩu xin vui lng vo đy. Nếu bạn chưa l thnh vin, hy Đăng k một ti khoản tại đy.
Tựa đề (*)
Nội dung (*)
 
           

Về trước  

Các bi viết khác:
  • Khủng hoảng và sự lựa chọn của chúng ta
  • Tâm trạng của doanh nhân Việt Nam về gia đình và công việc của bản thân
  • Bản sắc dân tộc qua ngôn ngữ, điệu hát
  • Biểu hiện bên ngoài của đồng nhất dân tộc
  • Khi đi chơi, ai là người trả tiền
  • Nghiện ma tuý
  • Nghiện sinh lý và nghiện tâm lý
  • Phác thảo mô hình lý thuyết về nhân cách văn hoá trí thức (tiếp)
  • Phác thảo mô hình lý thuyết về nhân cách văn hoá trí thức
  • Những thứ gì được trẻ em tiêu tiền nhiều và nhữug thứ gì ít được chi tiêu?
  • Dấu hiệu nghi ngờ trẻ bị buôn bán
  • Ứng xử của con cái qua cái nhìn của cha mẹ
  • Nhận thức của người dân ven đô về nghề nghiệp và cơ hội tìm kiếm việc làm
  • Những lưu ý khi giáo dục ý thức lao động cho trẻ nhỏ
  • Một số lưu ý khi giáo dục tính kỷ luật ở trẻ nhỏ
  •  
    User ID:    
    Password:

     

     
    Đăng k thnh vin? Qun mật khẩu?

    Chi tiết