Rối Loạn Lo Âu Ám Ảnh Sợ Hãi: Nguyên Nhân, Dấu Hiệu Và Điều Trị

Rối loạn lo âu ám ảnh sợ hãi đặc trưng bởi nỗi sợ, sự lo lắng quá mức và dai dẳng về những đối tượng và tình huống thông thường. Tình trạng này khiến người bệnh gặp nhiều phiền toái trong cuộc sống và thường xuyên phải đối mặt với căng thẳng, phiền muộn.

rối loạn lo âu ám ảnh sợ hãi
Rối loạn lo âu ám ảnh sợ hãi (Phobia Disorder) là một dạng của rối loạn lo âu

Rối loạn lo âu ám ảnh sợ hãi là gì?

Rối loạn lo âu ám ảnh sợ hãi (Phobia Disorder) còn được gọi là chứng ám ảnh sợ hãi hoặc rối loạn ám ảnh sợ đặc hiệu. Đây là một trong những dạng rối loạn lo âu phổ biến bên cạnh rối loạn lo âu lan tỏa và rối loạn hoảng sợ. Chứng bệnh này đặc trưng bởi nỗi sợ thái quá, vô lý và kéo dài về những đối tượng, tình huống thông thường và không tiềm ẩn bất cứ đe dọa nào đến cuộc sống.

Rối loạn ám ảnh sợ hãi được chia thành nhiều loại khác nhau tùy theo đối tượng gây ra nỗi sợ và mỗi loại sẽ được gọi bằng những tên gọi riêng biệt. Trong đó, nỗi sợ phổ biến nhất là sợ hãi các loại động vật côn trùng, sợ độ cao, không gian hẹp, kín và các hiện tượng thiên nhiên. Ngoài ra, một số người có nỗi sợ quá mức về những tình huống xã hội (rối loạn lo âu xã hội), sợ đám đông,…

Khi đối mặt với những tình huống nguy hiểm, phản ứng của cơ thể là lo lắng và sợ hãi. Tuy nhiên, người mắc chứng rối loạn ám ảnh sợ thường trực nỗi sợ về những vấn đề không quá nghiêm trọng. Khi đối diện với tình huống và đối tượng cụ thể, mức độ sợ hãi tăng lên gây ra nhiều triệu chứng thể chất và tâm thần. Trong nhiều trường hợp, bệnh nhân có thể ngất xỉu hoặc khởi phát các cơn hoảng loạn cấp tính hay còn gọi là rối loạn hoảng sợ.

Thống kê cho thấy, khoảng 19 triệu người dân Mỹ mắc phải chứng bệnh này và gặp phải nhiều phiền toái do nỗi sợ vô lý gây ra. Mức độ ảnh hưởng của chứng ám ảnh sợ hãi phụ thuộc vào đối tượng gây ra nỗi sợ. Trong đó, rối loạn lo âu sợ xã hội và đám đông được đánh giá là gây ra ảnh hưởng nặng nề nhất. Chứng ám ảnh sợ hãi thường khởi phát ở giai đoạn vị thành niên và hiếm khi xuất hiện sau 25 tuổi. Dạng rối loạn lo âu này có thể gặp ở cả nam và nữ giới với tỷ lệ cao hơn ở phái nữ (gấp 2 – 3 lần).

Các dạng rối loạn lo âu ám ảnh sợ hãi thường gặp

Rối loạn lo âu ám ảnh sợ hãi được chia thành nhiều loại khác nhau và được gọi tên theo đối tượng gây ra nỗi sợ. Theo thống kê, người bệnh thường có nỗi sợ vô lý với những đối tượng và các tình huống sau:

rối loạn lo âu ám ảnh sợ hãi
Bệnh nhân có thể sợ hãi quá mức về các loài côn trùng không gây nguy hiểm như nhện, sâu, thằn lằn,…
  • Các tình huống: Tình huống xã hội, đi máy bay, tàu điện, phải vào các không gian kín, hẹp như phòng nhỏ hay thang máy.
  • Các hiện tượng thiên nhiên: Giông bão, sấm chớp,…
  • Các đối tượng liên quan đến thủ tục y tế: Máu, kim tiêm, sợ bị chấn thương và các thủ tục y tế khác.
  • Động vật: Thường là các loại côn trùng như nhện, sâu, gián, thằn lằn, rết, bọ cạp,…
  • Các yếu tố khác: Ngoài ra, một số người còn có nỗi sợ vô lý với độ cao, tiếng động lớn, sợ lỗ, sợ chú hề,…

Tùy vào yếu tố gây ra nỗi sợ, chứng rối loạn lo âu ám ảnh sợ hãi sẽ được gọi tên khác nhau. Chẳng hạn như rối loạn lo âu sợ xã hội, hội chứng sợ máu, hội chứng sợ không gian hẹp, chứng sợ đám đông,…

Dấu hiệu nhận biết rối loạn lo âu ám ảnh sợ hãi

Rối loạn ám ảnh sợ hãi có triệu chứng khá đa dạng, phụ thuộc vào nguồn gốc của nỗi sợ. Tuy nhiên nhìn chung, người mắc chứng bệnh này luôn có nỗi sợ vô lý, thái quá và kéo dài trong ít nhất 6 tháng về những tình huống và đối tượng thông thường. Nỗi sợ quá mức khiến người bệnh né tránh nhiều tình huống và gặp phải không ít phiền toái khi sinh hoạt, học tập, làm việc,…

bệnh ám ảnh sợ hãi
Người mắc chứng ám ảnh sợ hãi thường có nỗi sợ vô lý về tình huống, đối tượng cụ thể như động vật, độ cao,…

Các dấu hiệu nhận biết rối loạn lo âu ám ảnh sợ hãi:

  • Luôn thường trực nỗi sợ về những tình huống, đối tượng không thực sự nguy hiểm. Nỗi sợ thường kéo dài trong ít nhất 6 tháng và không thể nào khống chế – ngay cả khi người bệnh nhận thấy sự sợ hãi của bản thân là vô lý.
  • Vì luôn có nỗi sợ với những tình huống và đối tượng cụ thể trong cuộc sống nên người bệnh luôn rơi vào trạng thái căng thẳng, bất an, lo âu,… Để giảm những cảm giác này, bệnh nhân chủ động né tránh các tình huống và đối tượng gây sợ hãi.
  • Việc né tránh nỗi sợ khiến người bệnh gặp nhiều phiền toái khi học tập, làm việc và sinh hoạt. Ngoài ra, cách ứng xử có phần bất thường cũng khiến bệnh nhân khó kết bạn và duy trì được các mối quan hệ lâu dài.
  • Những phiền toái trong cuộc sống cùng với sự bất lực trong việc chế ngự sự sợ hãi khiến người bệnh bị stress, buồn bã, bi quan và có xu hướng sống cô lập, tách biệt với mọi người xung quanh.
  • Khi đối diện với tình huống và đối tượng gây sợ hãi, nỗi sợ sẽ gia tăng khiến bệnh nhân không kiểm soát được cảm giác và hành vi.
  • Phản ứng chung của người mắc chứng bệnh này khi đối mặt với nỗi sợ là hoảng loạn, lo lắng quá mức, bất an, bồn chồn,… Đồng thời đi kèm với các triệu chứng thể chất như đau đầu, chóng mặt, hoa mắt, buồn nôn, tim đập nhanh, vã mồ hôi, run rẩy và có thể ngất xỉu.
  • Một số trường hợp xuất hiện cơn hoảng loạn khi đối mặt với những tình huống và đối tượng gây ra sự hãi.
  • Trẻ nhỏ thường có phản ứng như khóc lóc, la hét, bám lấy bố mẹ, đôi khi nổi giận, cáu kỉnh và khuôn mặt thể hiện rõ sự tuyệt vọng.

Sau khi cách ly khỏi nỗi sợ, các triệu chứng sẽ dần thuyên giảm. Tuy nhiên, bệnh nhân vẫn sẽ có thường trực nỗi sợ về những tình huống, đối tượng không thật sự nguy hiểm. Do đó, người bệnh thường lựa chọn né tránh để hạn chế tình trạng nỗi sợ tăng cao gây ra các triệu chứng thể chất. Bệnh nhân bị rối loạn lo âu xã hội, sợ đám đông, sợ khoảng rộng,… có thể giam mình trong nhà vì luôn có cảm giác bất an và lo sợ khi ra ngoài.

Nguyên nhân gây rối loạn ám ảnh sợ hãi

Sợ hãi là phản ứng thông thường, xảy ra khi đối diện với những đối tượng và tình huống có tính chất nghiêm trọng như thú dữ, bị uy hiếp, đe dọa, bắt cóc,… Tuy nhiên, người bị chứng ám ảnh sợ hãi lại sợ hãi quá mức về những đối tượng và tình huống hoàn toàn bình thường. Đặc biệt, bệnh nhân không thể chế ngự nỗi sợ dù ý thức được sự sợ hãi của bản thân là thái quá và không cần thiết.

Đến nay các chuyên gia vẫn chưa tìm ra nguyên nhân chính xác gây rối loạn lo âu nói chung và rối loạn ám ảnh sợ hãi nói riêng. Thông qua các nghiên cứu đã được thực hiện, các chuyên gia cho rằng chứng bệnh này là hệ quả do nhiều yếu tố kết hợp.

điều trị ám ảnh sợ hãi
Di truyền được xác định là một trong những yếu tố tham gia vào cơ chế bệnh sinh của rối loạn lo âu ám ảnh sợ hãi

Một số nguyên nhân và yếu tố có thể gia tăng nguy cơ bị rối loạn lo âu ám ảnh sợ hãi:

  • Di truyền: Rối loạn lo âu nói chung và rối loạn ám ảnh sợ hãi nói riêng đều có khả năng di truyền. Các chuyên gia nhận thấy, người mắc chứng bệnh này có tiền sử gia đình bị rối loạn lo âu lan tỏa, rối loạn lo âu xã hội, rối loạn lo âu bệnh tật, ám ảnh sợ hãi,… Hiện tại, các chuyên gia vẫn đang nghiên cứu để xác định gen và cách thức di truyền của bệnh lý này.
  • Ảnh hưởng từ gia đình: Ngoài yếu tố di truyền, ám ảnh sợ hãi có thể là kết quả do trẻ học theo suy nghĩ và hành vi của bố mẹ và người thân trong gia đình (có thể không cùng huyết thống). Khi còn nhỏ, trẻ rất dễ bị ảnh hưởng bởi những người xung quanh. Nếu sống với người bị rối loạn ám ảnh sợ hãi lâu dài, trẻ cũng có thể mắc phải chứng bệnh này do học theo cách ứng xử và suy nghĩ của người bệnh.
  • Các sự kiện sang chấn: Sau khi đối mặt với các sự kiện sang chấn như suýt chết đuối, tai nạn từ trên cao, bị động vật tấn công, côn trùng cắn gây nhiễm trùng, gia đình gặp tai nạn xe nghiêm trọng,… trẻ có thể hình thành nỗi sợ với những tình huống và đối tượng có liên quan. Chẳng hạn như trẻ có nỗi sợ vô lý với máy bay, tiếng động lớn và độ cao vì từng bị tai nạn máy bay. Nỗi sợ bắt nguồn từ việc trẻ lo sợ những sự kiện khủng khiếp sẽ xảy ra thêm một lần nữa.
  • Hoạt động của não bộ: Ở bệnh nhân rối loạn lo âu nói chung và rối loạn ám ảnh sợ hãi nói riêng, các chuyên gia nhận thấy hoạt động của não bộ có nhiều điểm bất thường và đặc biệt luôn có sự sụt giảm của một số chất dẫn truyền thần kinh. Tình trạng này thường do di truyền hoặc do căng thẳng tích tụ. Ngoài ra, các sự kiện sang chấn nghiêm trọng cũng có thể ảnh hưởng đến cách thức não bộ hoạt động và dẫn đến chứng ám ảnh sợ.
  • Đặc điểm tính cách: Hầu hết những người bị rối loạn ám ảnh sợ hãi đều có tính cách nhút nhát, thiếu tự tin, sống phụ thuộc vào gia đình, hay lo lắng và suy nghĩ. Trong khi đó, những trẻ hoạt bát, năng động, tính cách vui vẻ và dạn dĩ ít gặp phải chứng bệnh này. Tuy nhiên, đây chỉ là yếu tố nguy cơ vì một số trẻ thay đổi tính khí hoàn toàn và có biểu hiện rối loạn ám ảnh sợ hãi sau khi trải qua các sự kiện có tính chất nghiêm trọng.
  • Các yếu tố khác: Rối loạn lo âu ám ảnh sợ hãi cũng có liên quan đến những yếu tố như giới tính (nữ giới có nguy cơ mắc bệnh cao hơn do tâm lý nhạy cảm, hay lo lắng), tổn thương não bộ do chấn thương, lạm dụng chất,… Ngoài ra, những người có sẵn các vấn đề tâm lý như trầm cảm và rối loạn lo âu lan tỏa sẽ có khả năng phát triển chứng bệnh này sau khi trải qua sự kiện sang chấn.

Rối loạn ám ảnh sợ hãi có nguy hiểm không?

Rối loạn lo âu ám ảnh sợ hãi gây ra nhiều phiền toái đối với cuộc sống, sức khỏe và mức độ ảnh hưởng phụ thuộc vào nguyên nhân gây ra nỗi sợ. Nếu sợ hãi trước những đối tượng có thể dễ dàng né tránh như rắn, chú hề, sợ độ cao,… người bệnh vẫn có thể học tập và làm việc như bình thường. Tuy nhiên trong trường hợp sợ hãi với các tình huống xã hội, sợ đám đông,… cuộc sống sẽ bị xáo trộn và rất khó để có thể duy trì hiệu suất học tập và làm việc.

điều trị ám ảnh sợ hãi
Chứng ám ảnh sợ hãi khiến người bệnh sống tách biệt, cô lập và có khả năng cao bị trầm cảm

Nếu không được thăm khám và điều trị, rối loạn ám ảnh sợ hãi có thể gây ra những biến chứng như:

  • Sống cô lập, cách ly với xã hội: Vì sợ hãi quá mức với các đối tượng và tình huống xã hội nên người bệnh có xu hướng né tránh, từ đó sống cô lập và tách biệt với mọi người. Ngoài ra, cách ứng xử có phần kỳ lạ cũng khiến người bệnh khó kết bạn và nhận được những ánh nhìn hiếu kỳ. Tình trạng này khiến bệnh nhân đau khổ, buồn bã và có xu hướng giam mình trong phòng, không muốn tiếp xúc và mở rộng các mối quan hệ.
  • Tăng nguy cơ lạm dụng chất: Những phiền toái do chứng ám ảnh sợ hãi khiến người bệnh đau khổ, bi quan và chán nản. Ngoài ra, sự bất lực trong việc chế ngự nỗi sợ cũng khiến bệnh nhân dằn vặt và hình thành những suy nghĩ tiêu cực về bản thân. Để thoát khỏi cảm xúc đau khổ và suy nghĩ bi quan, người bệnh thường sử dụng rượu bia, thuốc lá và chất kích thích.
  • Gia tăng nguy cơ mắc các bệnh tâm thần khác: Chứng ám ảnh sợ hãi gây ra căng thẳng và nhiều cảm xúc tiêu cực do các phiền toái trong cuộc sống. Nếu tình trạng không được cải thiện, người bệnh có thể mắc phải các rối loạn tâm thần khác như rối loạn lo âu lan tỏa, rối loạn hoảng sợ, rối loạn ăn uống và trầm cảm. Tình trạng đồng mắc nhiều bệnh lý sẽ khiến cho sức khỏe tâm thần suy kiệt và gia tăng nguy cơ gặp phải các biến chứng nặng nề.
  • Các biến chứng khác: Rối loạn ám ảnh sợ hãi còn gây ra nhiều biến chứng như các hành vi tự hại, tự sát, bệnh nhân sống phụ thuộc và trở thành gánh nặng của gia đình vì không thể lao động, trẻ phải bỏ dở việc học và đánh mất tương lai. Ngoài ra, chứng bệnh này kéo dài cũng ảnh hưởng đến các mối quan hệ và người bệnh có thể phải sống cô độc, gặp khó khăn khi hẹn hò và kết hôn.

Có thể thấy, rối loạn ám ảnh sợ hãi gây ra nhiều biến chứng đối với sức khỏe và cuộc sống. Ngoài những ảnh hưởng trên, người mắc chứng bệnh này còn phải đối mặt với các vấn đề thể chất như mất ngủ, cao huyết áp, suy nhược cơ thể, các bệnh lý tiêu hóa, nội tiết,…

Chẩn đoán rối loạn ám ảnh sợ

Rối loạn ám ảnh sợ được chẩn đoán dựa trên tiêu chuẩn DSM – 5 của Hiệp hội Tâm thần học Hoa Kỳ. Tiêu chuẩn này bao gồm người bệnh phải có nỗi sợ hoặc lo âu rõ ràng, kéo dài về đối tượng, tình huống cụ thể trong ít nhất 6 tháng. Bên cạnh đó, phải đi kèm với những triệu chứng sau đây:

  • Luôn cảm thấy sợ hãi, lo âu khi phải đối diện với tình huống, đối tượng cụ thể.
  • Né tránh các đối tượng và tình huống gây ra sự sợ hãi.
  • Tình trạng né tránh và sợ hãi, lo lắng quá mức về những đối tượng, tình huống không thật sự nguy hiểm gây ra nhiều phiền toái trong cuộc sống.
  • Nỗi sợ và sự lo lắng không tương xứng với mức độ, tính chất của đối tượng và tình huống.

Rối loạn lo âu ám ảnh sợ hãi có thể bị nhầm lẫn với các rối loạn tâm thần khác, đặc biệt là trong trường hợp đồng mắc với trầm cảm, rối loạn lo âu lan tỏa,… Ngoài ra, bệnh nhân cũng phải thực hiện một số xét nghiệm cận lâm sàng để loại trừ các bệnh lý thể chất và rối loạn tâm thần do hội chứng nghiện.

Các phương pháp điều trị rối loạn lo âu ám ảnh sợ hãi

Rối loạn ám ảnh sợ hãi có thể được kiểm soát nếu tích cực điều trị. Hiện tại, hai phương pháp chính được áp dụng là liệu pháp tâm lý và sử dụng thuốc. Phác đồ điều trị sẽ được xem xét và điều chỉnh tùy vào độ tuổi, mức độ bệnh và đối tượng/ tình huống gây ra nỗi sợ. Ngoài ra, gia đình và bản thân người bệnh cũng cần có các biện pháp hỗ trợ để có thể vượt qua chứng bệnh này.

Các phương pháp điều trị rối loạn lo âu ám ảnh sợ hãi:

1. Liệu pháp tâm lý

Liệu pháp tâm lý là phương pháp chính được áp dụng cho quá trình điều trị rối loạn lo âu ám ảnh sợ hãi. Phương pháp này được thực hiện nhằm giúp bệnh nhân chế ngự nỗi sợ và cảm xúc tiêu cực. Đồng thời giúp người bệnh nhìn nhận đối tượng và tình huống một cách đúng đắn, từ đó có thể giảm bớt nỗi sợ vô lý và thái quá.

Những phiền toái do rối loạn ám ảnh sợ gây ra cũng khiến cho bệnh nhân bị stress. Do đó, vai trò khác của trị liệu tâm lý là giúp người bệnh giải tỏa cảm xúc một cách lành mạnh nhất và trang bị thêm những kỹ năng cần thiết.

điều trị ám ảnh sợ hãi
Liệu pháp tâm lý là phương pháp chính trong quá trình điều trị rối loạn ám ảnh sợ hãi

Các liệu pháp tâm lý được áp dụng cho bệnh nhân rối loạn lo âu ám ảnh sợ hãi:

  • Liệu pháp tiếp xúc: Liệu pháp tiếp xúc/ liệu pháp phơi nhiễm được thực hiện bằng cách cho bệnh nhân tiếp xúc với đối tượng gây sợ hãi với mức độ tăng dần. Ban đầu, chuyên gia sẽ cho người bệnh tiếp cận thông qua ý nghĩ để đánh giá phản ứng và hướng dẫn cách chế ngự nỗi sợ. Sau đó, người bệnh sẽ được tiếp xúc trực tiếp với tình huống/ đối tượng cụ thể để học cách quản lý sự lo lắng và sợ hãi. Nhìn chung, liệu pháp tiếp xúc mang lại hiệu quả cao trong điều trị các ám ảnh sợ.
  • Liệu pháp nhận thức hành vi (CBT): Liệu pháp nhận thức hành vi cũng là phương pháp được áp dụng phổ biến. Phương pháp này đặc biệt có hiệu quả với hội chứng sợ đám đông, không gian trống và các tình huống xã hội. Mục tiêu của CBT là tìm hiểu nguồn gốc sâu xa của nỗi sợ, sau đó tác động đến nhận thức (tư duy) nhằm điều chỉnh cảm xúc và hành vi phù hợp. Ngoài ra, liệu pháp này còn giúp bệnh nhân tự tin vào bản thân và làm chủ tốt cảm xúc, suy nghĩ của chính mình.

Liệu pháp tâm lý mang lại hiệu quả cao và hầu như không có tác dụng phụ. Do đó, phương pháp này được ưu tiên cho trẻ em và những đối tượng đặc biệt như phụ nữ mang thai, cho con bú và người có các bệnh lý nền không thể sử dụng thuốc.

2. Liệu pháp hóa dược

Với những trường hợp nhẹ, bệnh nhân sẽ được điều trị hoàn toàn bằng liệu pháp tâm lý. Tuy nhiên, thuốc cũng có thể được xem xét để làm giảm các triệu chứng thể chất, cải thiện tình trạng sợ hãi, hoảng sợ, lo lắng, căng thẳng,…

điều trị ám ảnh sợ hãi
Một số bệnh nhân sẽ được xem xét dùng thuốc để nâng đỡ tinh thần và giảm nhẹ triệu chứng

Các loại thuốc được sử dụng trong điều trị rối loạn lo âu ám ảnh sợ hãi:

  • Thuốc an thần nhóm benzodiazepin
  • Thuốc chống trầm cảm (thường được dùng nếu bệnh nhân có biểu hiện trầm cảm, lo âu, buồn bã,…)
  • Thuốc chẹn beta (được sử dụng để giảm các triệu chứng thể chất)

Sử dụng thuốc chỉ giúp cải thiện triệu chứng tạm thời nên bắt buộc phải kết hợp với liệu pháp tâm lý. Với những bệnh nhân có nỗi sợ quá lớn, dễ căng thẳng và hoảng loạn, bác sĩ sẽ chỉ định dùng thuốc trong quá trình trị liệu để nâng đỡ tinh thần.

3. Các biện pháp tự cải thiện

Bản thân người bệnh cũng cần có những biện pháp tự cải thiện để nâng cao sức khỏe và giảm thiểu các triệu chứng do rối loạn ám ảnh sợ hãi gây ra. Các biện pháp này giúp quá trình điều trị diễn ra thuận lợi và mang lại kết quả khả quan hơn.

Các biện pháp tự cải thiện chứng rối loạn lo âu ám ảnh sợ hãi:

  • Ngồi thiền và tập yoga mỗi ngày để giải tỏa căng thẳng, lo âu. Một số nghiên cứu đã được thực hiện cũng cho thấy, ngồi thiền giúp người bệnh tự tin hơn và giảm các hành vi né tránh với đối tượng, tình huống gây ra nỗi sợ.
  • Thực hiện một số biện pháp thư giãn như các bài tập thư giãn cơ bắp, hít thở sâu, sử dụng trà thảo mộc, tắm nước ấm,… để giải tỏa tâm trạng và cải thiện giấc ngủ.
  • Kiểm soát sự lo lắng và nâng cao sức khỏe bằng cách tập thể dục thường xuyên. Các hoạt động thể chất giúp điều hòa chất dẫn truyền thần kinh trong não bộ, qua đó giảm đáng kể tình trạng lo lắng, căng thẳng, buồn rầu, bi quan, chán nản,…
  • Xây dựng chế độ ăn uống và sinh hoạt lành mạnh. Hạn chế đồ uống chứa cồn và caffeine vì các loại thức uống này có thể gia tăng sự lo lắng.
  • Tham gia vào các hội nhóm dành cho những người bị rối loạn ám ảnh sợ hãi để được chia sẻ, đồng cảm và có thêm kinh nghiệm quý báu để vượt qua nỗi sợ của bản thân.

Rối loạn lo âu ám ảnh sợ hãi là một dạng rối loạn tâm thần khá phổ biến chỉ sau trầm cảm và rối loạn lo âu lan tỏa. Bệnh lý này gây ra nhiều phiền toái trong công việc, học tập, ảnh hưởng đến các mối quan hệ và sức khỏe của chính bệnh nhân. Tuy nhiên, chủ động thăm khám – điều trị sớm sẽ giúp ích rất nhiều trong việc chế ngự nỗi sợ và nâng cao chất lượng cuộc sống.

Tham khảo thêm:

Trở thành người đầu tiên bình luận cho bài viết này!

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *